Hình thức hành đạo của Hệ phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Người tín đồ Hiếu Nghĩa trước khi vào Đạo phải biết sơ qua Tôn chỉ và Nghi thức. Vì ngoài việc trau tâm sửa tánh ra, đạo Hiếu Nghĩa rất nhiều Nghi lễ cúng kiếng và tụng niệm. Nếu chưa biết sơ qua nghi thức hành đạo thì rất dễ chán nãn. Do đó, ít có người đi suốt con đường Đạo sự cho đến ngày xác thân lìa tục.

           

            a)-TÔN CHỈ:

            Tôn Chỉ của đạo là “Học Phật Tu Nhơn” cho người Cư sĩ tại gia. Không cấm việc dựng vợ gả chồng, tự do kinh doanh, tự do sinh kế theo khả năng, nghề nghiệp của mình, miễn là không xâm phạm đến tự do của người khác. Không bắt buộc trường chay khổ hạnh nhưng hạn chế sát sanh. Và cử ăn 12 con Giáp (như Chuột, Heo, Gà, Trâu, Dê.v.v…)

            Kính trọng chung Tam Giáo (Phật, Thánh, Tiên) xem ba giáo nầy cùng một gốc. Cúng dường, trì niệm theo hình thức Phật Giáo. Lễ nghi, học vấn, văn tự theo hình thức Nho giáo. Rèn luyện Tinh, Khí, Thần gần với Lão giáo.

           

            b)-NGHI THỨC:

            Ngày đầu vào Đạo phải đưa đến chùa van vái tự nguyện qui y nhập Đạo. Do ông Trò của gánh mình qui y (Từ ngày Đức Bổn Sư tịch diệt những người được kế tiếp xem sóc giềng mối đạo gọi là ông Trò) cấp phát Lòng phái cho người đã qui y. Lòng phái nầy có bốn phần:

            – Tờ Lòng Phái chánh bằng giấy vàng, trong ấy có viết rõ tên họ, năm tháng thọ phái qui y và một bài kinh khoảng 100 chữ. Người qui y thọ phái phải học thuộc lòng (Bài Kinh nầy gọi là Lòng phái).

            – Một tờ giấy vàng nhỏ, hình chữ nhựt có in trên đó 4 chữ BỬU SƠN KỲ HƯƠNG bằng triện son.

            – Một tờ nguyên khổ giấy vàng in trên đó nhiều bùa chú, gọi là Tiên Sanh Thế Độ.

            – Một tờ bằng vải tây đỏ, phỏng độ 3×6 tấc, in trên đó chữ bùa lớn, màu xanh. Gọi là Tiên Sanh Thái Kiệt.

           

            THỜ PHƯỢNG: Giữa nhà có bàn nhị đẳng (mặt bàn có hai từng). Trên hết thờ Quan Thánh Đế Quân, từng kế thờ Hội Đồng Thượng Phật. Dưới chót có một bàn Kinh (rời) ngoài lư hương ra, hai bên có chuông mõ, chính giữa một bộ Kinh cúng dường 13 quyển. Vách phía bên phải có một bàn thờ nhỏ thờ Tam Giáo. Bên trái có bàn nhỏ riêng thờ Cửu Phẩm Liên Hoa. Bên dưới bàn nhị đẳng có bàn nhỏ thờ Thập Phương.

            Trong cùng bên phải thờ Nội ngoại thân thuộc bên vợ. Ngoài cửa (chính giữa thờ Tiền hiền. Hai bên thờ Tả, Hữu mạng Thần). Trước sân có bàn Thông Thiên chia làm hai tầng. Tầng trên thờ Chánh Đức Thiên La Thần. Tầng dưới thờ Thổ Trạch Long Thần.

            Trên bàn Tiền hiền thường có một khay lễ, trong khay có nơi cấm đèn nhang và hoa, ba chung nước và một cái dĩa têm trầu cau. Nếu thờ đúng theo Nghi thức của Đạo, thì nhà người tín đồ cũng như một ngôi chùa, mỗi lần thắp nhang phải trên 10 cây.

           

            C)-TRANG PHỤC:

            Người tín đồ qui y nhập Đạo khỏi phải thí phát (cạo đầu) trái lại còn để tóc dài, bới lên, mỗi người tối thiểu phải có chiếc áo dài bằng vải màu đen (không nên dùng hàng lụa) để lễ bái ở chùa, hoặc đi cúng dường nơi nhà các thân bằng. Khi đến phải đi chơn đất, không được mang giày dép vào chùa.

           

            d)-HÀNH ĐẠO:

            Phần nhiều người cho rằng: Những người tu hành là những người khác hơn các giới ngoài đời, là người hiền đức, hoặc người tu hành là để gọi chung cho những người tuân theo giới luật của một giáo thuyết nào đó. Nhưng phân tích theo nghĩa đen: Tu là trau giồi bản thân cho riêng mình, hoặc theo một giáo điều mà mình phục tùng. Hành là hành đạo, hành theo nhơn đạo hoặc theo quy tắc căn bản của một giáo thuyết mình tôn thờ. Như thế người tu sĩ đã theo giáo thuyết Tứ Ân Hiếu Nghĩa thì phải tuân theo sự hành đạo.

            Công phu Bái Sám: Người vào Đạo, trước tiên phải học thuộc mặt chữ (chữ Hán) quyển Linh Sơn Hội Thượng Kinh, vì quyển kinh nầy là nghi thức cúng dường sơ đẳng của Đạo, công phu đầu hôm, sớm mai hoặc các nghi thức cúng dường hay nhựt tụng, thường trích trong quyển Kinh nầy.

            Niệm Phật (hay lần tràng hạt): Mỗi tín đồ thảy đều có một xâu chuỗi bằng hạt Bồ Đề hoặc hạt Kim Cang (108 hạt) gọi là niệm Pháp trường. Khi lần mỗi hạt là tâm niệm một lần Phật hiệu. Xong một bần là niệm đủ 108 lần Phật hiệu. Niệm bảy bận (mỗi bận một danh xưng Phật hiệu khác nhau) như vậy mới xong một “Thất” Pháp. Mỗi thời cúng, người tu sĩ tối thiểu phải niệm ba “Thất Pháp”. Mỗi Thất Pháp còn phải niệm theo ba quyển Kinh, tùy theo lễ cúng. Thiện nam, Tín nữ niệm kinh hiệu khác nhau.

            Sử Thập Điều (tuân Mười điều):

            1/-Tuân luật Thượng Sư (tuân theo luật Thầy dạy).

            2/-Báo đáp Tiên linh (báo đáp công ơn ông bà đã khuất).

            3/-Lễ Phụ Tử Cang (Lễ phép đạo nghĩa Cha con).

            4/-Lễ Quân Thần Cang (Lễ phép đạo nghĩa Chúa Tôi).

            5/-Lễ Thập phương Phật (Lễ bái Chư Phật mười phương).

            6/-Lễ Báo ân Tam Bảo (Lễ trả ơn Phật, Pháp, Tăng).

            7/-Nghĩa đáp Ân Sư (trả nghĩa ơn Thầy).

            8/-Tín nghĩa Thân Bằng (giữ tín nghĩa với bà con làng xóm).

            9/-Tác Phu Thê Cang (giữ tình nghĩa vợ chồng).

          10/-Tạ Ân Hậu thổ (Trả ơn tấc đất ngọn rau).

           

            đ)-CÚNG DƯỜNG:

            Ngoài những công phu xử thế ra, người tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa còn phải thường xuyên cúng dường để báo đáp công ơn các bậc tiền nhơn. – Sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn. – Mỗi tín đồ hằng năm phải cúng dường nhiều lệ, để cầu siêu cho các bậc tiền nhơn được siêu sanh Tịnh Độ. Do đó, mỗi năm người tín đồ chẳng luận sang hèn, nghèo giàu, đều phải có những lễ cúng dường:

            Lễ cúng Đoan Ngũ: Sau khi cúng mùng 5 tháng 5 xong, mỗi gia đình phải chọn một ngày để cúng Đoan Ngũ, thường thì hay chọn ngay ngày cúng giỗ cho ông bà. Trước nhứt, gia chủ phải sắm khay lễ đến trình tại chùa Tam Bửu, kế đến trình tại nhà ông Trò của gánh mình đã quy y. Sau rốt, đến trình với ông Cư Sĩ (người thường làm sớ điệp cho gia đình mình) nhờ ông nầy làm sớ điệp cúng.

            Đến ngày cúng, ngoài việc mời thân bằng đến tụng niệm Cầu siêu, gia chủ phải đi làm lễ thỉnh điệp những nơi đã trình qua. Trong điệp ghi đủ Danh sách những vong nhơn bên Nội, Ngoại, Chồng và Vợ. Phẩm vật cúng gồm có: Hương Hoa Trà Quả và sáu bản giấy tiền cộng với vàng bạc, giấy Ngũ sắc, giấy trắng xếp lại từng phần, mỗi vong nhơn một phần. Về thực phẩm có chi cúng nấy, không bắt buộc. Nhưng đặc biệt phải có hai món: Bánh Đúc và Xôi Xeo. Khi cúng xong người cư sĩ có trách nhiệm lập thành một cuốn sách cho bá gia của mình, sách và điệp giống y nhau, rồi đốt đi, sách để lưu lại cho gia đình người cúng giữ.

            Bộ Kinh cúng dường gồm 11 quyển, trong đó có 3 quyển Hiếu Nghĩa Kinh (Thượng, Trung, Hạ), người cư sĩ chỉ tụng một quyển Thượng cho Lễ Đoan Ngũ.

            Lễ cúng Chánh Đán: Từ nội dung đến hình thức lễ cúng nầy cũng không khác Lễ cúng Đoan Ngũ, chỉ khác là người Cư sĩ tụng kinh Hiếu Nghĩa quyển Trung, và mùa tiết cúng Chánh Đán từ tháng Giêng đến cuối tháng Ba.

            Lễ cúng Đối Kỵ: Đối Kỵ là ngày giỗ cho Ông Bà hay Cha Mẹ. Hình thức Lễ nầy cũng như những Lễ cúng đã nêu trên nhưng nội dung sự cúng kiếng thu hẹp hơn. Vì những Lễ cúng trên có nhiều vong linh, nên sự cúng kiếng có tánh cách là “Đám Giỗ Hội” nên phải mời nhiều thân bằng để được nhiều Pháp thí. Lễ Đối Kỵ chỉ có một Vong linh, nên hạn chế từ việc mời thân bằng đến phẩm vật cúng dường. Dĩ nhiên người Cư sĩ phải niệm Hiếu Nghĩa kinh quyển Hạ và cũng không quên “Bánh Đúc Xôi Xeo”.

            Ngoài các Lễ cúng chính yếu đã nêu trên còn rất nhiều Lễ cúng Thượng, Trung, Hạ nguơn, ngày rằm, ngày vía, bốn mùa tám tiết, Quan, Hôn, Tang, Tế.v.v…

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *