III. Nhà Bác Học: Ông Hồ Hữu Tường

Ngoài lối giải-thuyết Sấm-Giảng khoa-học địa-lý còn lối giải-thuyết bằng phương-pháp khoa-học của ông Hồ-hữu-Tường, một học-giả mà ông Tam-Ích đã liệt ngang hàng với Đào-duy-Anh, Phan-văn-Hùm. Nguyễn-văn-Tố v.v.

Nhưng trước khi đề-cập đến lối giải-thuyết của ông, tưởng cũng nên tìm hiểu tại đâu ông Hồ-hữu-Tường thay-đổi quan-niệm một cách đột-ngột mà ông Thiếu-Sơn gọi ông Tường là “một nhà học-giả đương khủng-hoảng về tinh-thần”.

Mà quả là ông Tường có khủng-hoảng về tinh-thần chăng, khi ông ra thuyết “Xuân Thu mới” và tuyên-bố ly-khai học-thuyết mác-xít, vì theo ông, học thuyết này đã quá thời trong giai-đoạn tiến-hóa tư-tưởng hiện nay và sau này.

Nhưng do ông Tường xây dựng thuyết “Tân Xuân Thu”, một danh-từ mà chúng ta được thấy Sấm-Giảng nêu lên để chỉ thời-tiết sau này của thời-kỳ Thượng-Nguơn.

Hẳn ông Tường khám-phá được cái gì, nhận thấy một chơn-lý cao siêu nào, nên ông mới thay-đổi tư-tưởng một cách đột-ngột như thế.

Nếu không thế, thì có lý đâu ông lại kêu lên “những tiếng gọi đàn” tha-thiết trong quyển Tương-lai văn-hóa Việt-Nam mà chúng tôi xin trích ra đây một đoạn:

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thực to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha-thiết. Thực tha-thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận-điệu đanh-thép. Thực đanh-thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin… để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa-cầu về cho dân-tộc ta, dân-tộc Việt-Nam.

“Đây là một gia-đình nghèo nàn khốn-khổ. Mẹ bịnh la-liệt không tiền chạy thuốc. Gạo trong vò sạch hết sạch. Em nhịn đói không nổi kêu khóc vang tai. Tất cả anh, chị, em đều đuối sức, mệt hơi, vì thời buổi làm ăn vất-vả…Ngẫu-nhiên, một đứa con trong gia-đình này gặp ở giữa rừng một khối vàng to. Khối vàng quá to, thừa sức cung-cấp để chạy thuốc cho mẹ, mua gạo nuôi cả nhà, trang-trải các mối nợ và làm cho gia-đình trở nên mấy ngàn lần triệu-phú. Khối vàng quá to, nên sức mình ôm về, hay lăn về không nổi. Rồi hối hả, đứa con ấy chạy đi kêu anh, chị, em, lên “tiếng gọi đàn” để vào rừng cùng đem khối vàng về…

“Trong lòng của đứa con ấy cũng dồn-dập những luồng thổn-thức e-ngại. Làm sao mà có được những lý-lẽ đanh-thép để cho anh,chị, em tin? Cảm-hóa, tin rằng mình đây không phải là điên rồ, không phải là mê-mộng lại sáng-suốt mà báo tin mừng cho gia-đình và lên tiếng gọi đàn, để cùng nhau chung sức, nắm ngay lấy hạnh-phúc và vinh-quang.”

Ông Tường đã bộc-lộ sự  khám-phá của ông bằng một lối văn ngụ-ngôn ẩn-ước quá khéo-léo.

Nếu ông không khám-phá được cái gì hay không nhận thấy một chơn-lý cao-siêu nào thì có lý đâu từ địa-vị một nhân-viên trong phái-đoàn Hội-nghị Dalat, đương được người tín-nhiệm lại từ khước trách nhiệm của mình, mang gói từ Hà-Nội trở về Sài gòn, tuyên-bố một câu làm ngơ-ngác cả mọi người: ông tuyên-bố từ giã trường chánh-trị trong năm năm.

Từ sự kinh-ngạc này, ông đưa người ta đến kinh-ngạc khác. Ông lẳng-lặng như một thầy tu nhưng lâu lâu ông đăng lên báo nhiều ý-tưởng mà không ai ngờ. Ông cho rằng học thuyết mác-xít đã lỗi thời, rồi ông đưa ra thuyết “Tân Xuân Thu” làm cho phái của ông Tam-Ích cực-lực chỉ-trích.

Nhưng đó cũng chưa mấy ngạc-nhiên bằng khi ông Tường đưa ra đời bộ Ngàn năm một thuở trong đó ông mượn vai Phi-Lạc để đưa ra bao nhiêu lời tiên-tri của Sấm-Giảng, giải-thuyết lý Tận-Thế, lý Tam-Nguơn và đồng thời phủ-nhận những điều người đời nay đương tin-tưởng ở máy móc, thù phụng cái cũ của người ta để làm cái mới của mình mà không nhận rằng mình đã có “một khối vàng to”.

Đây chúng ta thử đọc một đoạn văn này của ông Tường đủ thấy quan-niệm của ông về cái nghĩa “mới” và “cũ”.

“Những nhà lập luận thiển-cận thường có luận điệu này: triết-gia Tàu hay lấy những học-thuyết cũ rích của Tây-phương mà nhập-cảng vào Trung-quốc và bảo đó là “mới” thì nguyên-nhân là bởi các triết-gia ấy có bịnh “cóp” rồi thì họ kiêu-hảnh với lời giải-thích tạm bợ:” Á-phiện làm buồn ngủ vì á-phiện có tính làm buồn ngủ”.

“Ta thì không thế. Ta lại tìm thêm:“Tại sao các triết-gia Trung-Hoa hay cóp?”

“Nhưng hỏi mãi cũng chán. Bởi vì lòng ta muốn làm sao cho ta được như chim bằng của Trang-Tử vỗ cánh bay mấy muôn dặm, sáng-tạo ra được một nền triết-học nào mới-mẻ đối với Tây-phương! Chớ cái việc cóp các học-thuyết của Tây-phương rồi đem ra mà nói rằng “tân” với đồng-bào của mình, thì thú thực “tân” này không khác cái “tân” của các bà đã nằm bếp!

“… Muốn cầm đầu thế-giới hay chịu phận, làm em của người, làm nước chư-hầu hiến cống cho một nước thiên-tử nào đó, thì hãy một mực đi theo triết-học của nước đó đi. Còn nếu nuôi chí lớn: thì lập một nền triết-học khác làm cơ-sở cho một đạo sống khác”.

Nhưng những tư-tưởng trên đây chưa làm đảo lộn-cả ý-thức-hệ của con người bằng đoạn văn vấn-đáp sau đây:

“ Học sách à? Học sách tức là nhận kẻ viết sách làm thầy sao? Tôi không học nơi sách nào cả!

“ Họ tức mình hỏi:

“ Không học anh làm sao biết được?

“ Thì nó nói dõng-dạc rằng:

“ Không học mà biết mới hay chứ! Nếu phải học mà biết cũng như các ông nghè ông cống khác, chớ nào có hơn, mà tranh có một địa-vị hơn họ!”

Thật là một ý-tưởng ngạo-nghễ, nhưng thật ra thì không ngạo-nghễ tý nào! Không học mà biết là một hiện-tượng không còn lạ với người đời nay nữa.

Hẳn quí ngài còn nhớ Đức Huỳnh Giáo-chủ đã viết:

Đức Lục-Tổ ít ai dám sánh,

Người dốt mà nói pháp rất rành.

Và ông Thanh-Sĩ cũng có viết:

Có học có biết có tường,

Không học mà biết phi thường khó thay!

Cũng đồng một ý nghĩa: không học mà biết mới hay, như ông Tường đã nói.

Tại đâu ông Tường có những ý-tưởng giống trong Sấm-Giảng? Nếu ông không khám-phá một điều gì!

Có người cho biết rằng: sở-dĩ ông Hồ-hữu-Tường thay đổi ý-tưởng một cách đột-ngột như thế là vì ông đã được một quyển Thiên-Thơ cũng như tác-giả quyển Con đường nào?.Ông dựa vào quyển Thiên-Thơ ấy viết ra bộ Ngàn năm một thuở, giải-thuyết Sấm-Giảng với sự hiểu biết của một người đi sâu vào đạo-giáo.

Sau khi đặt ra bao nhiêu nghi-vấn về sự thay đổi chí hướng của ông Hồ-hữu-Tường, nhiều người quả-quyết ông có được Thiên-thơ và đây là điều mà người ta đã khám-phá được về chỗ bí-ẩn ấy.

Chỗ bí-ẩn ấy là ông Tường đã tự-nhận có được một quyển sách, rồi dựa theo đó viết ra chuyện Ngàn năm một thuở.

        Đây đoạn ông Tường tự-nhận được có quyển sách:

“Số là tác-giả này, sau khi lánh nạn ra đến Hà-nội, ngụ được vài tháng, thì nạn binh lửa nổi lên, phải rút lui theo ngả Thụy-khê, làng Bưỡi, rồi đến làng Cổ Nhuế, v.v… Rồi đến khi hồi cư về Hà-nội, thì cũng do đường ấy. Khi trở về Cổ Nhuế, thì làng mạc tiêu điều, xơ xác, phải đến một góc đình con đứng mà ngủ tạm một đêm. Không dè lượm quyển sách ghi tên những ai đến hỏi nơi vị “Cố vấn học thuật” của làng. Nhờ vậy mới biết câu chuyện rồi do đó tìm thêm, để thuật lại ở đây câu chuyện lạ đời “Ngàn năm..một thuở”.

Mọi người đều cho rằng chỉ một đoạn văn này đủ cho chúng ta thấy ông đã tự-nhận có được Thiên-thơ một cách hết sức khéo-léo, cũng như dùng thuật-ngữ “tìm được một khối vàng trong rừng” để ám chỉ rằng tìm được sự vinh-quang của Việt-Nam.

Nếu quả thật ông Hồ-hữu-Tường đã được quyển Thiên-thơ, sao ông không lấy đó mà lập-thuyết một cách chững-chạc của một nhà sáng-tạo, hay phát-minh mà lại dùng lối văn trào-phúng viết úp mở, nửa hư nửa thiệt?

Muốn hiểu dụng-ý của ông, hãy nghe ông biện-luận thế nào là trào-phúng, thế nào là không trào-phúng, trong một đoạn văn dưới đây:

“Ngài nói sao mà nghe như giọng trào-phúng vậy?

“Phi-Lạc cả cười hỏi lại:

“Nếu là trào-phúng thì sao?

“Cả thảy đều nói:

“Nếu là trào-phúng thì ngài nói chơi. Nếu không trào-phúng thì là ngài nói thiệt.

“Phi-Lạc cười dài nói:

“Lầm to! Lầm to? Trào-phúng thuộc về giọng nói mà không về nội-dung-có xác sự thật hay không. Có thể nói với giọng đạo-mạo như giọng của Đạo Nhân Dĩ-Nhất mà không xác với thực-tế chút nào. Còn nói đùa như tôi khi nãy mà không phải là trái với sự thật. Chính là ta phải dựa theo vào sự thật khi trào-phúng mới được.

Như thế, còn ai nghi trong giọng trào-phúng của ông Tường không hàm có sự thật.

Nhưng sở-dĩ ông Tường dùng thuật ngữ trào-phúng là vì ông còn hoài-nghi. Ông thấy tương-lai khoa-học và đồng thời ông lại thấy cảnh-giới sau này vô cùng đẹp-đẽ hơn khoa-học, nhưng cảnh giới ấy lại do Thiên-lực mà có, còn khoa-học, thì do nhơn-lực mà có. Ông thấy hay nhờ quyển Thiên-thơ giúp cho ông thấy, ông thấy nhưng chưa tin trọn vì nó xa với ông quá, còn khoa-học thì nó gần với ông hơn.

Chính vì đó mà ông đâm ra hoài-nghi và cũng vì hoài-nghi mà ông Tường giải-thuyết Sấm-Giảng bằng một lối văn nửa hư nửa thiệt.

                 1-Giải-thuyết lý Tam-Nguơn và Tận-Thế

Nhưng dầu với hình-thức nào, ông Tường cũng đã cho người ta thấy ông đi sâu vào Sấm-Giảng. Một cách gián-tiếp, ông nhìn nhận lý Tam-Nguơn và cơ tận-diệt, như ông đã nêu ra trong bộ Ngàn năm một thuở.

Đây chúng ta hãy nghe ông Hồ-hữu-Tường luận về lý Tam-Nguơn:

“Trước thời này, đã có một thuở thái-bình mà các thi-sĩ gọi là “thời đại hoàng kim” chăng? Đó là một câu hỏi không lấy đâu làm bằng để trả lời cho được.

“Các tôn-giáo bảo:

“Hồi xưa, trên trái đất này, đã có một nền văn minh chói lọi, người sáng-suốt, thông cảm được cùng tiên phật, biết phép nhiệm mầu, đoạt quyền tạo hóa, hiểu được quá khứ vị lai. Rồi đến một lúc kia, hồng thủy dâng lên, đất sụp núi lở, ấy là thời tốt đẹp kia đã tận-thế. Thật ra chỉ là, dứt thời “thượng nguơn” để sang “trung-nguơn”.

        “Đến thời ‘trung-nguơn” này, tuy loài người không được ai ai cũng là hạng địa tiên như trước, song cả thảy an cư lạc nghiệp, chung hưởng thái bình, đường không lượm của rơi, nhà ngủ không đóng cửa. Và có một ít thánh-hiền, hồi ức được sự sáng-suốt của thời thượng-nguơn, có ghi chép điều hiểu biết vào những kinh sách mà đến nay, dầu ai thông minh đến bực nào cũng không hiểu nỗi. Thời trung nguơn này chấm dứt với đời Nghiêu Thuấn. Và từ đây bắt đầu “Hạ Nguơn”.

 Thời “hạ-nguơn” là một thời đen tối cho loài người. Người, lòng nuôi đầy ác ý, tranh nhau mà bóc lột nhau, giành nhau mà chém giết nhau. Kẻ giẵm lên xương máu của phần đông để lập sự-nghiệp của mình, thì được thế nhân ca tụng là anh hùng, vĩ nhân. Bao nhiêu óc sáng-suốt đều bị lợi dụng để chế tạo các khí giới tàn sát lẫn nhau, đưa nhân loại dần dần đến cảnh tận-thế.

        “Nhưng các tôn-giáo chỉ muốn đem cảnh “tận-thế” mà dọa loài người, cho họ sợ sự trừng phạt của trời đất mà theo các giáo điều. Các tôn-giáo quên rằng: trời đất xoay vần, hết năm cũ sang năm mới, thì cảnh đông qua xuân tới là dĩ nhiên. Vậy nên hạ-nguơn có dứt rồi thì một thượng-nguơn khác sẽ đến. Ấy là “đổi dời”. Lý trời là vậy đó”.

        Đọc đoạn này chúng tôi thấy ông Tường luận rất xác đáng về lý Tam nguơn, nhưng vì mang phải tật hoài-nghi mà ông cho rằng tôn-giáo muốn đem cảnh Tận-Thế dọa loài người cho họ sợ sự trừng phạt mà theo các giáo-điều. Có hẳn muốn cho loài người theo giáo-điều mà tôn-giáo nêu ra vấn-đề tận-thế chăng?

Chẳng hiểu dựa vào đâu ông Tường nhận thấy điều ấy, chớ từ Cao-Đài-giáo cho đến Phật-giáo phái Phật-thầy đều nhận: hễ mãn thời-kỳ Hạ Nguơn thì đến thời-kỳ Thượng-Nguơn. Như thế thì tôn-giáo đâu có quên cái lý tuần-hoàn của vũ-trụ mà ông Tường hoài-nghi.

Mặc dầu ông Tường phủ-nhận danh-từ “Tận-thế” và nhận giai-đoạn chấm-dứt thời-kỳ Hạ-Nguơn là một cuộc “đổi dời”. Song rốt cuộc ông cũng nhận “cuối thời Hạ-nguơn này là cảnh tận-thế của nhân loại”.

Đây chúng ta hãy nghe lý-giải của ông Tường về Tận-Thế, do Ngài Tả-quân Lê-văn-Duyệt cắt nghĩa cho ba nhà sư người Tàu nghe:

“Nãy giờ phải đòi ông Nguyễn-văn-Tố đến cắt nghĩa rõ về nguồn gốc của Thánh-Nhân, ấy muốn cho ba vị biết rằng khi mà Quỉ vương suy rồi là do tay Thánh-Nhân chấm dứt. Lúc ấy là cuối thời Hạ-Nguơn.

“Ba nhà sư hỏi:

“Làm sao mà biết rằng cuối Hạ-Nguơn?

“Tả-quân đáp:

“Cái đặc sắc của cuối thời Hạ-Nguơn này là cảnh tận-thế của nhân-loại. Xưa nay, loài người đã chứng kiến những cuộc tàn tạ của lắm cái văn-minh, như văn-minh của Ai-cập, của Ấn-độ, của Tàu. Nhưng mà những cuộc tàn tạ này không dữ dội và không phổ biến. Đó là những cuộc suy nhược lần mòn ở một địa phương. Nay là cảnh tận-thế dữ-dội phổ biến của nhân-loại.

“Ba nhà sư nghe nói đồng hỏi:

“Vì sao các nền văn-minh trước lo việc nhân nghĩa đạo đức, lo việc tu dưỡng của loài người. Như gần đây, Khổng, Phật, Gia-tô, Hồi Hồi thảy đều lo việc cứu vãn nhân loại…

“Nghe Tả-quân ví sự trút đổ của văn-minh Âu-Tây như hai người ôm vật nhau, thì cả thảy muốn biết rõ hơn nữa. Thấy vậy Tả-quân giải:

“Hiện nay các nước theo Âu Tây hãy còn đông. Đáng kể có Nga, Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nhựt, Ý có bảy nước. Kỳ dư chỉ là mới phết một lớp sơn bề ngoài thôi. Với bảy nước này, thế giới phải sống cảnh tượng như hồi liệt quốc nhà Châu. Một trận chiến tranh thứ nhứt đã đưa chúng vào một phen vật lộn. Nay lại bắt đầu một cuộc chiến tranh thứ hai. Nhưng chưa hết đâu! còn có một lần chiến tranh thứ ba nữa. Mà lần thứ ba này, cái văn minh Âu Tây lại kết tinh thành hai khối chọi nhau.

“Sư Hồng Hạc hỏi thêm:

“Hai khối này có phải là khối dân chủ và khối phát-xít chăng?

“Nghe hỏi vậy tả quân cười đáp:

“Dân chủ hay phát xít, tự do hay độc tài, đó chỉ là những phương tiện như thế nào cũng không cần, miễn là họ đạt đến mục-đích.

“Sư Hồng Hạc nghe nói không hiểu, bèn hỏi:

“Ngài nói văn minh Âu Tây đuổi theo cái lợi thì biết dựa vào đâu mà bảo rằng bảy nước ấy lại phân làm hai khối?………………………………………………………

“Bởi là chiến tranh toàn-diện, nên sức tàn phá của nó mãnh liệt không ngần. Không có một địa hạt nào tránh khỏi sự tiêu-diệt. Giữa các nước, thì nước này diệt nước kia bằng những khí giới lạ lùng, nguy hiểm.

Trong một nước, thì đoàn thể này chống với đoàn thể kia một cách quyết liệt chẳng kể mạng người, chẳng động lòng nhân. Hễ khác đảng phái thì dầu cho là anh em, chồng vợ, cha con cũng không dung nữa. Bao nhiêu thâm tình đều xóa bỏ, chỉ nghe mạng lịnh của đảng phái mà thôi. Rốt cuộc mọi người điều phải đau đớn khổ sở vì không biết làm sao mà dung hòa ý, tình, lý của mình với mạng lịnh khắc khe của đoàn thể. Không lúc nào con người thấy mình bị một ách quá nặng nề như thế!

“Ba nhà sư nghe tả cảnh tận-thế rùng rợn như vậy thì kinh hồn và chấp tay đồng hỏi:

“Nếu nhân loại bị loạn lạc như vậy, thì còn có hy vọng gì mà sửa đổi lại, lấy trí dẹp loạn, lấy thái bình trừ chiến tranh chăng?

“Tả quân đáp:

“Bởi cái thời loạn lạc như vậy, nên loài người khổ sở vô ngàn. Những hoạn, những nạn có Quỉ vương gieo rắc sẽ tràn ngập, làm chết ngợp chúng sanh. Thế mà có người cứu vãn được y như lời quẻ thứ mười hai của Khổng-Minh. Quẻ ấy là:

Chủng hoạn cứu nạn,

Thị duy Thánh Nhân.

Dương phục nhi tri,

Hối cực sanh minh.

“Câu thứ nhứt và câu thứ nhì có nghĩa là”

“Lấy hoạn mà chữa cái nạn, thì có Thánh Nhân mới làm được. Còn hai câu sau lại định kỳ hạn mà Thánh-Nhân xuất-hiện. Hết cái thời ám này, nghiã là dứt cái hạ-nguơn, bắt đầu thượng nguơn khác thì dương trở lại, chuyện ấy sẽ rõ. Ấy là hết tối tới sáng vậy. Lời sấm rõ lắm rồi. Nay dứt hạ nguơn Thánh Nhân là Xích Tử ra đời, đổi đời mới, lập thiên hạ lại.

“Ba nhà sư cùng hỏi:

“Còn chủng hoạn cứu nạn là làm sao?

“Cái đó là việc riêng của Xích-Tử, là sự nghiệp của người, ta không có phép lo trước. Thiên cơ bất khả lậu!

“Rồi Tả-quân nói tiếp:

“Còn như quẻ thứ mười ba:

Hiền bất dỉ dã,

Thiên hạ nhứt gia.

Vô danh vô đức,

Quang diện Trung-Hoa.

“Là tả cái cảnh thiên hạ đại-đồng mọi người được dùng, không bỏ sót ngoài đồng như thuở hạ nguơn, tất cả thiên hạ sống chung một nhà, yêu thương nhau. Cảnh ấy là thiên đường trên quả địa cầu”.

Ngoài những lý do Tận-Thế mà ông Hồ-hữu-Tường mượn lời Ngài Tả quân để phân giải như đã nói trên ông Tường còn giải-thuyết lý Tận-Thế về phương-diện lý-số và tôn-giáo nữa.

“Về mặt lý số, những nhà lãnh đạo cho phong trào muốn cho tất cả dân chúng tin-tưởng vào một ngày mà mọi người phải chọn chỗ dự bị, ngày hết thời âm sang thời dương, hết thời tối đến thời sáng sủa, hết thời khổ não đến thời hạnh phúc, hết thời loạn lạc tới thời thanh bình, hết thời tủi nhục tới thời vinh quang. Họ là những nhà lý số, dựa theo những thuyết của nhà triết-học đời Tống như Thiệu nghiên Phu, mà định cái ngày vinh quang ấy ở vào thế hệ của chúng ta.

“Thời về mặt tôn giáo, học thuyết của sư tổ Huệ Năng cũng đồng một dự đoán như vậy. Phật Di-Lặc xuống thế độ trần cũng vào khoản này. Và đến như theo Gia Tô giáo, ngày tận-thế hai ngàn năm sau Jésus giáng sanh cũng hiệp với tiên-tri của phái lý số.

“Mấy triệu người theo Lão học, tin vào phép dưỡng sinh. Mấy trăm triệu người theo Nho giáo, mấy trăm triệu người theo Gia Tô giáo đồng một sự tin-tưởng. Kẻ theo khoa học, dầu có hoài nghi cũng không cưỡng lại một trào lưu ngày càng mãnh liệt và đến lúc, nghiêng về một phía”.

Đọc đến đoạn này, người ta sẽ thấy rõ mối hoài nghi của ông Tường đã vỡ tan khi ông viết:

“Kẻ theo khoa học, dầu có hoài nghi cũng không cưỡng lại một trào lưu ngày càng mãnh-liệt”.

Nhưng vậy người ta có thể hiểu thêm rằng dầu ông Tường dùng một lối văn nữa hư nữa thực để cho người đọc có cảm tưởng rằng ông còn hoài nghi, nhưng thật ra trong thâm tâm, ông vẫn tin Sấm-Giảng.

Ông tin chắc đến đỗi ông dám cả quyết cho trận đại-chiến thứ ba sẽ nổ vào năm 1952.

Đây là một đoạn văn ông Hồ-hữu-Tường nói về trận địa-chiến thứ ba:

“Mấy năm mà Ngài gọi là không lâu?

“Nay là cuối 1945. Cái kế-hoạch đánh cuội của tôi vạch ra đó ít lắm bốn năm mới xong, nghĩa là đến gần hết năm 1949 thì Tưởng-giới-Thạch mới nhượng hoàn toàn cho đảng Cọng, thì còn mấy năm nữa đâu?

“Mà mấy năm nữa chớ?

“Thì ba năm, đến năm 1952, ắt có chiến-tranh thứ ba. Xứ tôi ai mà chẳng biết. Ông Trạng-Trình có để lại lời Sấm:

Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh,

Can qua xứ xứ động đao binh.

Mã đề dương cước anh hùng tận,

Thân dậu niên lai kiến thái bình.

“Bài Sấm này không phải chỉ cuộc chiến tranh thứ nhì sao?

“Lầm! Lầm to? cuộc chiến tranh thứ nhì hoặc kể là khởi ở Tàu, nơi vụ Lư cầu Kiều là năm 1937 tức là năm Đinh Sửu, hoặc kể là khởi ở Âu châu  hay là năm 1939 tức là năm Kỷ mão chớ nào phải là năm Thìn đâu mà gọi là Long vĩ, năm rồng, cuối năm Thìn?

“Vả lại lời sấm là bàn về cuộc chiến tranh thứ hai có ăn thua gì mà làm sấm chi cho mất công? Mà câu “Mã đề dương cước” đâu có ứng? Bởi anh hùng không có tận mà?

“Vậy theo Ngài thì cuộc chiến tranh thứ ba ra làm sao?

          2-Giải thích trận Đại Hồng-thủy và Thiên-Hỏa

Đây chúng ta thử nghe ông Tường giải-thích về Đại Hồng-thủy.

Ông Tường cho rằng từ trước đến nay chưa có trận chiến-tranh nào mà sự tàn-sát lớn-lao bằng trận đại chiến thứ ba, bởi vì kỳ chiến tranh này, bao nhiêu phát-minh về nguyên-tử đều được đem ra phụng-sự cho việc sát hại. Chính võ-khí nguyên-tử ấy sẽ gây ra bao nhiêu tai nạn cho loài người như làm cho quả địa-cầu phải ngập lụt, làm cho nhân loại phải cháy thiêu.

Trước hết ông Tường cho rằng thế nào trận Đại-chiến thứ ba cũng nổi ra giữa Nga và Mỹ. Nhưng khu-vực chiến-đấu là khu-vực nào?

“Bây giờ chú thử tính lại xem con đường nào là đường chiến-lược của cuộc giao-phong của đôi bên? Ta sắp hai giả-thuyết. Một là Nga lấn thế mà công kích. Hai là Mỹ thừa sức mà tràn tới.

“Nếu Nga muốn công kích Mỹ hay là Mỹ đánh Nga thì con đường gần hơn hết là con đường hàng không vòng trên bắc cực. Thế là các nước ở nửa trên sẽ bị dội bom, bom thường, bom nguyên tử, bom vi trùng mà bị tàn phá cả.

“Anh nói như vậy rõ lắm! Tôi thấy bên Tân thế-giới thì Gia-nã-đại, Hiệp-chủng-quốc, còn bên Cựu thế-giới thì cả Âu-châu, Tây-bá-lợi-á, Nhựt-bổn và miền Bắc nước Tàu sẽ bị tàn phá không thua gì một cuộc tận-thế.

“Còn nếu Lục quân của Nga muốn tấn-công Mỹ thì phải noi theo ba đường.

“Con đường phía Tây là phải tràn qua nước Đức, nước Pháp, nước Y-pha-nho, Bắc-phi, để tiến tới Tây Phi và Nam-Phi, vì hai chỗ này sang qua Nam Mỹ gần hơn để rồi đó đánh lên Bắc Mỹ.

“Con đường phía Đông là từ Tây-bá-lợi-á đánh tan Nhựt bổn để đổ sang A-lát-Ka, rồi đánh sang Gia-nã-đại và Huê-kỳ.

“Con đường phía Nam là tấn-công Ấn-độ rồi từ đó đánh sang qua Úc-châu để sang qua Nam-Mỹ nữa.

“Và con đường chiến lược của Mỹ cũng chỉ là ba con đường ấy mà thôi”.

Sau khi vạch rõ khu chiến-đấu của Nga và Mỹ, ông Hồ-hữu-Tường không ngần-ngại mà nói đến cách hành quân của đôi bên.

Theo ông thì “con đường tấn công gần hơn hết bằng phi cơ, bằng bom nguyên-tử là xuyên qua Bắc cực và Nam-cực. Thì tất nhiên chiến-trường là hai chỗ ấy, Nga thì học phía Bắc cực, Mỹ thì lo Nam Mỹ, còn Anh thì lo Nam-Phi. Vậy cuộc chiến-tranh nguyên-tử tàn khốc sẽ diễn ở Nam cực và Bắc cực, mỗi bên toan phá hủy căn cứ của đối phương.

“Mỗi bên sẽ ném nhiều bom nguyên-tử mà không hạn chế được… Sức nóng của bom nguyên-tử làm  nước đá kia chảy ra, sôi lên thành hơi nước nóng và có một trận lụt khổng lồ, một trận lụt nước sôi từ Nam-cực và Bắc-cực tràn về miền Xích-đạo.

“Người ta muốn làm gì để ngăn trận lụt nước sôi do nước đá ở Bắc cực và Nam cực chảy ra mà sôi sùn sục ấy cũng không được, bởi sức nổ chuyền của nguyên tử chạy cũng không kịp nữa.”

Nếu đó chẳng phải là trận Đại Hồng-thủy, chớ còn gì nữa, mà là trận Đại Hồng-thủy bằng nước sôi. Nếu vậy thì nhân-loại bị tiêu-diệt hết sao? Hay có phương gì tránh nạn lụt nước sôi ấy?

Ông Tường cho biết rằng: Ở Nam Mỹ-châu và Bắc Mỹ-châu, người ta giành nhau mà chạy đến cái eo đất nhỏ xíu ở giữa. Nội cái đứng không cũng đủ chật đất rồi còn chổ đâu cày cấy có lúa mà ăn? Tránh nạn phỏng nước sôi thì cũng bị nạn đói.

“Còn ở Âu-châu thì hết đường mà chạy. Ở trên tràn xuống thì bị Đại-trung-hải chận lại, tàu đâu mà chở cho hết. Và chở đem đi đâu bây giờ? Ở Phi-châu thì phía Nam dồn lên lại đụng sa-mạc Sahara. Tránh nước sôi lại bị khát nước. Ở Bắc phi thì chạy xuống đụng Sahara vậy.

“Còn ở Nga thì chạy đâu? Chạy qua xứ Á-rập, Sa-mạc, chỉ chạy sang Ấn-độ, xứ Ấn-độ không đủ mễ cốc nuôi dân, nay lại thêm người nữa làm sao mà sống nổi.

“Còn dưới kia, Úc-châu sẽ bị nạn lụt nước sôi tràn tới, không còn đường chạy, vì nó là một hòn đảo.

“Chung qui lại, chỉ có vùng Đông Nam Á-châu của ta là Miến-điện, Xiêm-la, Việt-Nam, miền Nam nước Tàu là thoát được cái nạn lụt khổng lồ ấy”.

Ngoài nạn lụt, ông Tường còn cho biết cái nạn lửa cháy rực Trời mà Sấm-Giảng gọi là Thiên-hỏa. Ông Tường nói rằng: “Cuộc chiến-tranh thứ ba sẽ là một cuộc chiến-tranh nguyên-tử. Mà cái lợi hại của nguyên-tử-lực không phải là mấy quả bom như kỳ rồi đã nói ở Nhựt-bổn đâu. Sự hại của nó là sức nổ chuyền. Một nguyên-tử này nổ ra, phát điện tử bắn vào nguyên tử kế đó thì nguyên-tử sau này nổ luôn theo rồi chuyền như vậy mãi ra và tràn lan vô cùng tận. Nhiệt độ phát ra không thể tưởng tượng được”.

Nhưng rất may, nạn Thiên-hỏa ấy cũng như nạn lụt nước sôi không tràn đến miền Xích-Đạo. Nhờ đó mà nước Việt-Nam được an-tòan, dẫn đạo các nước trong thời-kỳ Thượng-Nguơn.

      3- Giải-thích về Thượng-Nguơn và Xã-hội Tân Xuân-Thu

Ông Hồ-hữu-Tường cho biết rằng:“Cuối trận chiến tranh thứ ba hầu khắp quả địa cầu đều bị tàn phá. Các đô thị lớn đã biến thành những đống gạch ngói ngổn-ngang bắn ra những tia quang-tuyến của nguyên-tử-lực cho đến cỏ cũng không mọc được. Đó là kết quả của nguyên-tử. Đâu đâu, đầy xác chết bốc ra muôn ngàn loại vi-trùng đang nghễu-nghến tìm nạn nhân. Đó là kết quả chiến-tranh vi-trùng. Thành thị thì như thế. Còn thôn quê thì chỉ còn có một thứ cỏ dại mới khởi sự mọc le the bởi cái lẽ dễ hiểu rằng: khi làn nước sôi tràn lụt qua một lượt, thì cỏ cây thảy chết sạch hột giống thảy luộc chín tất cả. Loài người cũng chết sạch. Có ai sống sót khỏi nạn nước sôi cũng bị nạn đói, bởi còn cái gì đâu mà ăn? Riêng có vùng nhiệt-đới thì cỏ cây còn thạnh-mậu, các giống mễ cốc hãy còn sót lại. Nhưng ở nơi khác từ mấy năm, người chết gần hết, ai mà trồng trọt, nên phần đông đã trở nên hoang-vu”.

Chính nhờ ở vào vị-trí của miền Xích-Đạo mà nước Việt-Nam cũng như Miến-điện, Xiêm-la và miền Nam nước Tàu “thoát được cái nạn tàn phá của trận lụt khổng lồ ấy. Lại là xứ sản-xuất rất nhiều lúa ăn. Có bà con tản cư đến thêm gấp đôi dân số, nghĩa là đến hai trăm triệu người cũng có thể nuôi được”.

Vốn là một khu “phi chiến”, cho nên nước Việt-Nam sau này sẽ “bất chiến tự nhiên thành” đúng như Sấm Trạng-trình đã tiên-tri, mà ông Hồ-hữu-Tường ví sự “bất chiến tự nhiên thành” ấy như miếng võ-thuật “Hầu tử xuất động”. Nước Việt-Nam yếu-ớt cũng như con khỉ trong hang không làm gì chống lại nổi cọp, beo, lang, gấu , rắn, thế mà biết len-lỏi, chờ cho các nước mạnh như cọp, beo, lang, gấu kia chong nhau cho đến sụm hết, đúng với lời Sấm “Mã đề dương cước anh hùng tận”, rồi xuất động thì làm gì chẳng làm chúa.

Đó là nhờ vị-trí “phi chiến” của nó mà sau này nó trở nên một nước dẫn đầu thế-giới.

Nếu thế thì nước Việt-Nam chẳng có gì tốt đẹp, vẫn giữ cái cảnh-tượng điêu-tàn cỏ khô đồng cháy, hoang-vu như thế sao?

Ông Tường cũng tin rằng thế giới sẽ bước qua thời-kỳ Thượng-Nguơn, nghĩa là vô cùng tốt đẹp, khí-hậu ôn hòa như trong Sấm Giảng đã nói. Nhưng làm thế nào thế-giới biến hình, thay đổi khí-hậu và trở nên một xã-hội Tân Xuân-thu, nghĩa là trong một năm chỉ có hai mùa ấm và mát?

Sự biến đổi ấy, ông Tường cũng qui cho kết-quả của bom nguyên-tử mà ra.

Ông Tường giải-thích như thế này: bom nguyên-tử mà Nga và Mỹ đem ra dùng sau này sẽ còn mãnh-liệt gấp trăm, ngàn lần thứ bom nguyên-tử đã dội xuống nước Nhựt. Sức nổ của nó, nếu không làm núi tan đất vỡ thì cũng làm quả địa-cầu, vì chịu không nổi mà xê-dịch vị-trí đi. Nó sẽ từ vị-trí hiện-hữu mà xê-dịch qua một vị-trí khác. Do sự xê-dịch ấy, quả địa-cầu ở vào một vị-trí một năm chỉ có hai mùa: Xuân và Thu, khí trời quanh năm rất ấm-áp mát-mẻ, còn ban đêm thì luôn luôn có mặt trăng mọc, sáng cả đêm này qua đêm khác, không hề sai chạy. Cái thế-giới đó, ông Tường gọi là thế-giới Xuân Thu.

        Đã đổi vị-trí như thế, đã thay đổi mùa tiết ngày đêm như thế, không nói ai cũng biết: chịu ảnh-hưởng của khí-hậu ôn nhu như thế, từ loài khoáng-vật, đến thực-vật cũng như động-vật, thế-giới sau này sẽ vô cùng đẹp đẽ. Cây cối hẳn tốt tươi, đất đai hẳn thích-hợp cho các loài cây quí báu thì con người hẳn cũng đẹp-đẽ và thông-minh tiến-hóa hơn nhiều.

        Ông Tường cho rằng cái xã-hội sau này sẽ tột bực văn-minh, thái-bình muôn thuở, con người sẽ tài trí phi thường. Nếu đem sánh với thời-kỳ Hạ-Nguơn này thì cách biệt không biết bao xa.

        Cứ lấy theo thiên-văn-học mà xét thì ông Tường thấy rằng: quả địa-cầu chúng ta đương chuyển từ cung con cá qua cung con cừu, trong mười hai Thiên-cung (Zodiaque). Hiện nay chúng ta còn ở trong cung con cá, một cung mà người đời có tâm-trạng như con cá, hễ gặp nhau là đá, cắn nhau. Bởi thế, ở vào thời-kỳ này, nhơn loại xô đẩy nhau vào con đường chiến-tranh không dứt, tương tàn tương sát. Cung con cá biểu-thị thời-kỳ Hạ-Nguơn. Trái lại, cung con cừu biểu-thị thời-kỳ Thượng-Nguơn, một thời-kỳ con người thông-minh tiến-hóa cao siêu nhứt trong các thời-kỳ. Ông Tường gọi là thời-kỳ của hạng minh-triết. Chẳng những con người trí-hóa thông-minh mà xã-hội lại thạnh-trị dân chúng đâu đâu cũng an-cư lạc-nghiệp. Các nước rất tương thân tương ái cho nên thế-giới trải qua một thời-kỳ thái-bình cả muôn năm, giống như đời Nghiêu-Thuấn.

        Đó là cả quan-niệm của ông Hồ-hữu-Tường về vấn đề Tận-thế và sự xây dựng cõi đời Thượng-Nguơn mà ông gọi là xã-hội Xuân Thu, quan-niệm dựa theo khoa-học để giải thích Sấm-Giảng.

Như chúng tôi đã nói: ông Tường vì vướng phải chủ-nghĩa hoài-nghi mà ông mãi tắc-tị, không tiến đến đâu.

        Ông Tường nói rằng: Sau trận giặc thứ ba các nước ở miền tiếp cận với Bắc-cực và Nam-cực điều bị nạn lụt nước sôi và sức nổ chuyền của bom nguyên-tử mà tiêu tàn đến cây cỏ cũng không mọc. Trong tình trạng hoang-vu như thế, nước Việt-Nam nhờ ở khu-vực phi-chiến mà tồn-tại, phỏng làm gì với nhân-lực mà xây dựng cõi đời Thượng-Nguơn?

Nếu thế thì cõi đời Thượng-Nguơn cũng vẫn là cõi thế-giới cũ-kỹ này thì thấy gì phân-biệt Thượng-Nguơn với Hạ-Nguơn. Còn mong rằng bom nguyên-tử sẽ làm xê-dịch vị-trí của quả địa-cầu và nhờ đổi vị-trí ấy mà thế-giới sau này sẽ đổi mùa tiết, nhưng lỡ như sức nổ chuyền của bom nguyên-tử không hãm lại được, nó cứ nổ chuyền mãi phỏng quả địa-cầu có bị cháy thiêu, loài người có bị chết luộc vì nạn lụt nước sôi chăng?

Nhưng thật ra Tận-Thế có đúng như các nhà khoa-học, bác-học đã nghiên-cứu không?

 

 

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây